Không ai là một ốc đảo, nhưng ai cũng cô đơn

Đó là buổi xế đêm kỳ lạ: Trời giông gió lớn vào chập tối rồi đột ngột ngừng, không một cơn gió, cây cối lặng thinh, những chiếc lá trên cùng một cành cũng không chạm được đến nhau.

Sự cô đơn đôi khi nảy sinh từ ngay những giây phút hạnh phúc nhất hoặc sóng gió nhất. Nếu nói rằng không ai là một ốc đảo thì cũng nên nói thêm rằng ai cũng cô đơn, thậm chí luôn luôn cô đơn. Có lẽ sự cô đơn cũng là thứ dưỡng chất của bản ngã ở mỗi con người, một nỗi cô đơn không phô bày là sự cảm nhật bản ngã mạnh mẽ, khiến người ta nhớ về nơi, về người, về hoàn cảnh khiến người ta chạm tới trái tim của chính mình.

Ai ai trong cuộc đời có lẽ cũng trải qua một khoảng thời gian cô đơn như một công cuộc xây dựng con người tự thân. Bỗng nhiên ta cảm thấy mình mất đi cộng đồng của mình, ta chìm nghỉm trong công việc chính mình tạo ra, ta thấy mình đứng ngoài một cuộc chơi lớn, ta thấy sự kết nối lỏng lẻo của mình với thế giới. Có những khoảng khắc cô đơn rõ rệt, và cũng có những khoảng thời gian dài cô đơn. Cô đơn thi thoảng lướt nhẹ trong từng thớ cơ khi ta ngẩng mặt lên nhìn bầu trời.

Tuy vậy, có thể sự cô đơn cũng là màn dạo đầu cho một chương mới mẻ. Trong cô đơn, ta biết rằng rất nhiều lúc, im lặng là một thực hành rất đỗi bình thường và trong im lặng, ta không còn bối rối. Cô đơn không hẳn là một câu chuyện buồn, cô đơn đôi khi cũng đẹp và không cần phải thở than về sự cô đơn. Dù vậy, để cô đơn tích cực thì nên khỏe mạnh.

Advertisements

Nghỉ ngơi

Dường như trời đất cũng muốn cho mình nghỉ ngơi. Trời mưa phập phù suốt những tuần đi đến và đi về, cả nơi đi và nơi về. Lần đầu tiên sau 8 năm kể tử nửa năm nghỉ ngơi ấy, mình lại cho phép mình một tháng được chỉ ở nguyên trong trái tim mình, được thở từ trong tận cùng trái tim thở ra.

Quyết định rời bỏ nơi làm đã gắn bó nguyên 8 năm ấy là một quyết định không dễ dàng, không bình lặng, nhưng cuối cùng hiện có là sự nhẹ nhõm. Nhẹ nhõm vì biết mình có khả năng kết thúc một điều gì đó, có khả năng nói không, vẫn còn sự dũng cảm trong trái tim và đủ tin tưởng vào bản thân mình, vẫn còn lòng tự trọng và chấp nhận thử thách.

Người ta không khám phá ra bản thân mình mà xây dựng nên bản thân mình. Có một người phụ nữ đã không còn là cô bé con nhìn lên bầu trời đầy mây tưởng mình đang gọi mưa đến. Có một người phụ nữ không còn là cô gái nhỏ còng lưng đạp xe đuổi theo bóng râm của một đám mây che mặt trời trong chốc lát. Người phụ nữ ấy không quên cô bé mình đã từng là, cũng không còn coi mình là một kẻ điên khùng, tự mãn với những điều mình biết. Tất cả đều muốn mình trở nên điên khùng, nhưng rất ít người đủ tốt hoặc đủ xấu để có thể trở nên điên khùng như mình từng nghĩ về bản thân mình.

Chúng ta ít nhiều đều được truyền cảm hứng là một cá thể độc đáo, độc nhất. Nhưng dần dần chúng ta đều cảm thấy bản thân mình giống với ai đó trên đời, đã từng sống hay đang sống. Chúng ta dần biết rằng bản thân mình vốn đầy rẫy khuyết điểm, tự hỏi liệu cảm giác đấy của con người chính là khởi nguyên của tôn giáo.

Nếu không phải rất buồn, người ta phải thở rất chậm và rất sâu mới bắt đầu chạm tới chính bản thân. Dù đã nghỉ ngơi nữa tháng, mình vẫn chưa cảm thấy mình thở đủ chậm và đủ sâu để chạm lại nơi mình là.

Luôn luôn xa lạ, luôn luôn quen thuộc

Đi tìm một nơi mình lạ lẫm trong một thành phố quen thuộc có khó không? Tìm thấy một cảm giác xa lạ tại một nơi quen thuộc có hẳn là buồn không? Cảm nhận thấy điều khó dự đoán ở một người quen thuộc có gây khó chịu hay không? Nhìn thấy một nơi quen thuộc trở nên xa lạ có phiền không?

Rất nhiều thứ vừa luôn luôn xa lạ, vừa luôn luôn quen thuộc, kể cả bản thân mình. Làm sao để một con người luôn chìm nghỉm trong một đám đông lại có thể được nhận ra?

Đã từng sống một lịch trình ngày nào cũng như ngày nào, cũng đã từng sống một giai đoạn không ngày nào giống ngày nào. Đôi khi không phải cứ đi là đến, nơi đến xa lạ nhưng người ta sẽ tìm thấy những thứ quen thuộc, để cảm thấy không lạc lõng, để cảm thấy không bối rối; nơi đến quen thuộc nhưng cảm giác xa lạ vẫn cứ xâm chiếm.

Cái thứ mà người ta cho là déjà vu – nhìn thấy trước tương lai từ quá khứ hay cảm thấy quen thuộc trong một sự kiện lần đầu tiên trong đời – thực ra luôn tồn tại trong mọi khoảnh khắc, chỉ bởi mỗi khoảnh khắc là quá bé nhỏ để vấn vương và suy niệm nên người ta gắn từng khoảnh khắc với đời sống bình thường, để được sống bình thường, để trái tim không nhảy nhót liên hồi.

Ước mơ và sự tử tế đáng giá bao nhiêu?

Đó là một ngày của những quyết định lớn: sự từ bỏ những gì đã rất gắn bó trong ít nhất 7 – 8 năm. Khi sự việc đã diễn ra, mình muốn nhìn lại thời điểm này và quyết định này, để thấy một cách rõ ràng tương lai được định hình bởi một quyết định trong quá khứ ra sao.

Đó là ngày của một sự chia tay trong tư tưởng, nếu có thể nói phần nào đó là một sự cô đơn ngọt ngào, một sự nhận thức về những gì là ở ngoài và ở trong, là một sự nhận thức về điều gì là không thể thay thế và điều gì là xa xôi. Thời khắc ấy thật sự là một sự cô đơn, giá như sự tử tế của mình được an ủi chỉ bằng một cái nắm tay, một cái gật đầu im lặng, có lẽ mình đã cảm thấy được an ủi rất nhiều, có lẽ mình đã có một sức mạnh khác với cái sức mạnh khởi sinh từ cô đơn mà mình có sau đó.

Dù sao thì đó là một quyết định liên quan tới sự tử tế, ít nhất là theo quan điểm của mình. Mình tử tế bằng cách không đáp trả theo lối họ đáp trả mình, tử tế bằng cách cho đi thêm vài tháng của cuộc đời mình để hoàn thành một cái hẹn.

Ước mơ đáng giá bao nhiêu chứ? Nếu nó có giá, thì đó là một cái giá rất đắt. Chẳng ai hỏi vì sao không ai đánh thuế ước mơ? Câu trả lời mình có hiện giờ là bởi giấc mơ là một thứ rất đắt đỏ, và người ta thường xuyên chịu lỗ vì giấc mơ của đời mình, và ai mà đánh thuế một vụ kinh doanh thua lỗ? Sự tử tế cũng có một cái giá, nhưng ít ra cái giá ấy có thể chịu đựng được bởi một sự thanh thản nhất định trong cõi lòng. Dù rằng sự thanh thản ấy không đi kèm với niềm hạnh phúc trọn vẹn.

Đúng hay sai?

Ngừng lại, nhìn lại, nghĩ lại cuộc đời mình, tương lai thì chưa biết rõ nhưng việc này dẫn tới việc kia, việc làm hôm nay thì mới ra tương lai mai sau. Mà lúc nào cũng vậy, có khi cái quyết định 5 – 6 năm trước mình cho là cỏn con thì nay phình ra hậu quả to đùng, khiến mình không biết cuộc đời mình đang đi đúng hay sai?

Sáng ngồi ăn phải 2 miếng ớt cay xè, cũng chẳng biết là đúng hay sai!

Nước mắt nước mũi tèm lem ngẩng đầu lên thì thấy một chú thương binh, tự hỏi, có bao giờ chú nghĩ: Mình tham gia chiến đấu bảo vệ tổ quốc, rồi bị mất đi một phần thân thể, mất đi khả năng lao động, vậy mình đi chiến đấu là đúng hay sai? Người thân nhìn nhận việc đó là đúng hay sai?

Cảm thấy một cuộc đời sống không phạm tội bỏ tù, chỉ thi thoảng làm mấy trò rồ dại, gây thiệt hại nho nhỏ, nghĩ về đúng sai thấy có phần bối rối. Cả một cuộc đời cứ sống vậy, chẳng mắc tội lớn mà cũng chẳng làm được điều gì lớn lao, những tham vọng xưa cũ cảm thấy cứ dần rời xa hay mình cảm thấy thời gian còn rất ít, cuộc sống quá chật chội.

Mình muốn lên đường đi tiếp, hoang hoải không tìm thấy chính bản thân mình nhưng cảm thấy cuộc đời rộng rãi.

Mình muốn bỏ đi, bởi vì có thể đó là lúc biết đúng hay là sai.

Nỗi buồn hèn mọn hay niềm hạnh phúc chẳng liên quan

Đôi khi chúng ta không thể lựa chọn giữa việc một nỗi buồn hèn mọn hay một niềm hạnh phúc chẳng mấy liên quan, ví dụ như một gương mặt buồn cười lướt qua trên đường hay việc biết được vì sao dân Do Thái lại chuyên cho vay nặng lãi trong suốt chiều dài lịch sử. Những nỗi buồn hèn mọn khiến ta cảm thấy mình thu lại còn bé xíu.

Luôn tự hỏi tại sao ta có ít ký ức về quá khứ đến vậy, ít liên lạc với những người đã là quá khứ của ta đến vậy, và có thể nói là vô ơn với những người đã từng dạy dỗ ta. Có những đoạn sống, những người ta đã gặp ta không thể nhớ. Kể cả khi những người đã góp mặt bên ta trong những cuộc vui ngày đó nhắc lại, ta vẫn không thể nhớ. Có những ngày đã rất vui, cười rất nhiều, cười thật – không cười giả, nhưng ta vẫn quên. Ta quá dễ quên, cả chuyện vui lẫn chuyện buồn, cả người ta đã từng cười vui cùng như những người bạn thân thiết nhất. Ta cứ mải miết tiến lên, hoặc đi tiếp. Có những lúc ta đi xa quá, ta đi lâu quá, đến nỗi khi bước chân về nhà ta cũng cảm thấy xa lạ.

Đôi khi người ta nói rằng họ muốn quay trở lại tuổi thơ một lần nữa, lớn lên một lần nữa, được lựa chọn lại, được sống lại thời thanh xuân. Ta nghĩ ta không muốn và không cần phải quay lại. Không phải vì ta không tiếc nuối điều gì trong cuộc đời, mà có lẽ nhiều hơn vì không có nhiều điều tốt đẹp đến thế đáng để quay lại.

Hai chiếc vòng

Hai chiếc vòng được mua cách nhau chừng hơn 1 năm, giờ đây lồng vào hai cổ tay phải và trái, như một sự ngẫu nhiên được sắp đặt của hai trải nghiệm khác nhau: cay đắng và hạnh phúc.

Chiếc vòng thứ nhất được mua vào một đêm của những bước chân mỏi mệt và cô đơn, của sự kiếm tìm một lần nữa lòng kiêu hãnh và cảm giác tự do được đưa bước chân đi xa, không ai biết đến, không ai chia sẻ cùng. Chiếc vòng được đeo lần đầu tiên vào một đêm mà câu “good night” đến từ một người vô gia cư xa lạ, tại một đất nước xa lạ, của những bữa ăn một mình, của cái đói một mình, của cảm xúc đắng cay một mình. Đã từng cô độc, nhưng cảm giác cô độc ở mỗi quãng đời có mùi vị rất khác nhau. Ở tuổi 20, cảm giác cô độc đi cùng niềm kiêu hãnh và háo hức khám phá thế giới; ở tuổi 30, khi đã từng đắm chìm trong tình yêu, cảm giác cô độc đi cùng với một mùi vị nhẹ bẫng của nỗi buồn, và người ta biết, tìm lại niềm kiêu hãnh của bản thân cũng gập ghềnh không kém con đường tạo lập nó.

Chiếc vòng thứ 2 được mua vào một buổi sáng nắng rực rỡ, hai đôi chân rảo bước, những đôi bàn tay đã lao động cùng với nhau, niềm phấn khích được bước chân ra thế giới lần nữa cùng nhau, đấy là một niềm hạnh phúc nhẹ nhàng. Có lẽ ở tuổi 20, nó có thể khiến người ta hạnh phúc hơn thế, còn ở tuổi 30, nó là một kỷ niệm của sự gắn bó, sự gắn bó của thời điểm ấy, thời điểm của hai kẻ đợi nhau ở cửa kiểm tra an ninh, thời điểm của hai kẻ chạy đứt hơi cùng nhau ở sân bay để kịp giờ, thay vì một kẻ lê bước chờ máy bay ở sân bay một mình. Ở tuổi 20, ta tiếc nuối những gì đã qua bởi công sức ta bỏ ra cho nó; ở tuổi 30, ta tiếc nuối những gì đã qua bởi hạnh phúc ta đã có với nó, dù cho niềm hạnh phúc ấy chẳng thiếu vết đen đau buồn.

Bỗng nhiên nghĩ đến Đại gia Gastby, có lẽ hiểu một phần sự tồn tại dai dẳng của nó xuyên suốt cả thế kỷ. Đứng từ phía Daisy, có người đàn bà nào không muốn một người đàn ông, dù trên đỉnh cao của quyền lực và tiền bạc hay cận kề cái chết trên chiến trường, đều trọn tấm lòng hướng về mình. Có người đàn ông nào như Gatsby, bất chấp tính phù phiếm đàn bà của Daisy, vẫn hàng đêm ngắm nghía ánh sáng xanh ngay trước mắt mà không nắm lấy được. Hay bởi thế nên Gatsby mới mãi mãi dành trọn con tim mình hướng về phía ánh sáng ấy?